Con người, tôn giáo và phong tục tập quán ở Malaysia

Con người, tôn giáo và phong tục tập quán ở Malaysia

Dân số Malaysia gồm nhiều nhóm sắc tộc, với nhóm người Malay nắm ưu thế chính trị chiếm phần đông, gần 52% dân số. Theo định nghĩa của hiến pháp, tất cả người Malay đều là tín đồ Hồi giáo. Khoảng 30% dân số là người Malaysia gốc Hoa, nhóm người này từ lâu luôn đóng vai trò quan trọng trong thương mại. Người Malaysia gốc Ấn chiếm khoảng 8% dân số.

con-nguoi-ton-giao-va-phong-tuc-tap-quan-o-malaysia

Khoảng 90% cộng đồng Ấn Độ là người Tamil nhưng nhiều nhóm khác hiện cũng có mặt, gồm Malayali, Punjabi và Gujaratis. Có nhiều người không Malay được coi là người thổ dân, chủ yếu tại Đông Malaysia. Họ chiếm khoảng 7% dân số.

Những nhóm thổ dân bản xứ không Malay chiếm hơn một nửa dân số bang Sarawak, khoảng 66% dân số bang Sabah, và cũng có mặt trên Bán Đảo tuy với số lượng nhỏ hơn, nơi họ được gọi là Orang Asli. Người bản xứ không Malay được chia thành hàng chục nhóm sắc tộc, nhưng họ cùng có nhiều điểm tương đồng văn hoá.

Các nhóm người Malaysia cũng được gộp vào đây gồm con cháu của người Âu, Trung Đông, Campuchia, Thái và Việt Nam, cùng những người khác. Người Âu và người lai Âu-Á gồm người Anh đã định cư tại Malaysia từ thời thuộc địa và một số người Bồ Đào Nha, và đa số người Trung Đông là người Ả Rập. Một lượng nhỏ người Campuchia và Việt Nam đã định cư tại Malaysia với tư cách người tị nạn chiến tranh. Sự phân bố dân cư không đồng đều, với khoảng 20 triệu người tập trung trên Bán đảo Malay.

Ngày 13 tháng 5 năm 1969 đã xảy ra một cuộc nổi loạn dân sự liên quan tới sắc tộc khi ấy được cho là vì tình trạng bất công bằng kinh tế-xã hội giữa các sắc tộc, dù nếu xem xét kỹ nó có thể có nguyên nhân chính trị do sự xúi giục từ phía cả chính phủ và các đảng đối lập, bởi bạo lực chỉ xảy ra tại các vùng trong và ngoài thủ đô, đại đa số đất nước vẫn ở tình trạng yên ổn. Vụ việc này dẫn tới sự thông qua Chính sách Kinh tế Mới với hai mục tiêu giải quyết sự bất bình đẳng sắc tộc và kinh tế cũng như xóa bỏ tình trạng nghèo đói trong nước.

Vì sự phát triển của những ngành công nghiệp đòi hỏi nhiều nhân công, Malaysia có 10 tới 20% nhân công nước ngoài nhưng con số này cũng chưa chính xác bởi một số lượng lớn nhân công nước ngoài làm việc bất hợp pháp khác, chủ yếu là người Indonesia; có hàng triệu người lao động nước ngoài bất hợp pháp và có lẽ khoảng một triệu người nước ngoài sinh sống bất hợp pháp khác.

Chỉ riêng bang Sabah có 25% trong số dân 2.7 triệu người được coi là lao động bất hợp pháp trong cuộc điều tra dân số gần đây. Tuy nhiên, cón số 25% chưa bằng một nửa con số do các Tổ chức Phi Chính phủ đưa ra.

Người nước ngoài không có giấy phép sẽ bị phạt tới 10.000 Ringgit Malaysia và ngồi tù hai năm, trong khi người Malaysia sử dụng lao động bất hợp pháp phải đối mặt với án tù một năm và khoản phạt lên tới 50.000 RM cho mỗi lao động bất hợp pháp được thuê mướn, những người thuê từ năm người trở lên có thể bị phạt roi. Phạt roi là hình phạt tiêu chuẩn cho hơn 40 loại tội phạm tại Malaysia, từ lạm dụng tình dụng cho tới sử dụng thuốc phiện. Được thực hiện bởi một cây roi mây to, hình phạt này xé rách da và để lại các vết sẹo.

Khoảng 380.000 người nước ngoài không giấy phép đã rời nước này trong một thời hạn “ân xá” bắt đầu năm 2004 và đã được kéo dài nhiều lần. Trong thời hạn này, người nước ngoài không giấy phép có thể ra đi mà không bị phạt. Ngày 1 tháng 3 năm 2005, khoảng 300.000 cảnh sát và 560.000 Người tình nguyện Nhân dân đã bắt đầu lục tìm những người nước ngoài không giấy phép còn ở lại trong nước trong Chiến dịch Tegas; những người tình nguyện được nhận 100 RM cho mỗi người nước ngoài họ bắt được.

Tôn giáo

Malaysia là một xã hội đa tôn giáo và Đạo Hồi là tôn giáo chính thức của Malaysia. Theo cuộc Điều tra Dân số và Nhà cửa năm 2000, xấp xỉ 60.4% dân số theo Đạo Hồi; 19.2% theo Phật giáo; 9.1% theo Thiên chúa giáo; và 6.3% theo Hindu giáo. 5% còn lại được tính vào các đức tin khác, gồm thuyết duy linh, shaman giáo, Đạo Sikh, Bahá’í, Đạo giáo, Khổng giáo, và các tôn giáo truyền thống Trung Hoa khác.

Cho tới tận thế kỷ 20, những đức tin truyền thống, vẫn được coi là có số người tin tưởng cao hơn con số chính thức của Malaysia. Những số liệu được đề cập ở trên có thể không chính xác bởi chúng không ghi nhận thực tế tất cả người Malay đều chính thức bị coi là tín đồ Hồi giáo, không phân biệt đức tin cá nhân.

Dù theo lý thuyết hiến pháp Malaysia đảm bảo thực thi tự do tôn giáo, trên thực tế tình hình lại không đơn giản như vậy (Xem Tình hình tự do tôn giáo tại Malaysia). Những đạo không phải là Hồi giáo phải chịu nhiều hạn chế về hoạt động như xây dựng nơi hành đạo và tổ chức các sự kiện tôn giáo của mình tại một số bang Hồi giáo.

Tuy nhiên, người Hồi giáo bị bắt buộc tuân theo các quyết định của các toà án Hồi giáo Sharia. Theo pháp luật, người Hồi giáo có thể không được tự do bỏ đạo, bởi làm việc đó đồng nghĩa với sự liên quan tới tòa án Hồi giáo. Tòa án Hồi giáo do các thẩm phán được đào tạo luật Hồi giáo phân xử. Nói chung một người muốn rời bỏ đạo Hồi phải đưa ra tuyên bố theo luật, nhưng việc này vẫn chưa được các tòa án dân sự Malaysia công nhận. Họ phải có được tuyên bố bỏ đạo từ một tòa án Hồi giáo và tòa án sẽ chỉ cho phép rời đạo sau khi đã bị thuyết phục hoàn toàn rằng người đó không còn đức tin vào Đạo Hồi nữa. Đây được cho là cách ngăn chặn sự mất ảnh hưởng của Đạo Hồi.

Đây có thể bị coi là một lập trường rất khoan dung của tòa án Hồi giáo. Nói chung, lời tuyên bố với một người Hồi giáo chỉ được đưa ra nếu hai người Hồi giáo khác chứng nhận rằng anh ta đã mất đức tin và không phản đối công khai trong vòng một ngày. Rõ ràng, việc cho phép rời Đạo Hồi hầu như không bao giờ được đưa ra, và như đã được thể hiện trong vụ Lina Joy.

Các vấn đề khác liên quan tới sự áp đặt luật Hồi giáo. Một nữ tín đồ Hồi giáo bị cấm kết hôn với một người không phải tín đồ Hồi giáo trừ khi người đó cải theo Đạo Hồi, và nếu cô ta tiếp tục bất kỳ quan hệ với người không phải tín đồ Hồi giáo đó, sự trừng phạt theo luật Sharia sẽ là cái chết. Nếu cô ta có quan hệ tình dục, hình phạt sẽ là ném đá đến chết, một hình phạt hiện vẫn chưa được chính thức bãi bỏ tại Malaysia.

Nếu cô ta có thai trong khi bị kết án, Đạo Hồi buộc cô ta cùng chết với bào thai[cần dẫn nguồn]. Nếu đứa trẻ đã ra đời, hình phạt sẽ được thực hiện khi thời gian cho bú kết thúc và sự chăm sóc đứa trẻ sẽ do nhà nước đảm nhiệm.

Người Malaysia thường có khuynh hướng tôn trọng đức tin tôn giáo của người khác, các vấn đề tôn giáo bên trong thường chủ yếu xảy ra trong phạm vi chính trị. Tuy nhiên, hiện đang có sự chia rẽ ngày càng lớn bởi nhiều người Trung Quốc và Ấn Độ cảm thấy bị đè nén sau nhiều chính sách liên quan tới tôn giáo gần đây của chính phủ, đe dọa sự tự do tôn giáo.

* Hồi giáo Malaysia
* Phật giáo Malaysia
* Thiên chúa giáo Malaysia
* Hindu giáo Malaysia
* Do thái giáo Malaysia
* Tình hình tự do tôn giáo tại Malaysia

Văn hoá

Malaysia là một xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ, gồm 52% người Malay và các bộ tộc bản xứ khác, 30% người Trung Quốc, 8% người Ấn Độ.[cần dẫn nguồn] Người Malay, là cộng đồng lớn nhất, được xác định là những tín đồ Hồi giáo trong Hiến pháp Malaysia. Người Malay đóng vai trò thống trị trong chính trị và được tính gộp trong một nhóm gọi là bumiputra. Tiếng mẹ đẻ của họ là tiếng Malay (Bahasa Melayu). Tiếng Malay là ngôn ngữ chính thức quốc gia.

Trong quá khứ, tiếng Malay thường được viết bằng ký tự Jawi, một ký tự dựa trên ngôn ngữ Ả rập. Cùng với thời gian, ký tự Latinh hoá dần chiếm vị trí của Jawi trở thành ký tự phổ biến. Điều này phần lớn vì sự ảnh hưởng của hệ thống giáo dục thuộc địa, vốn dạy trẻ em viết bằng ký tự Latinh chứ không phải ký tự Ả rập.

Nhóm bản xứ không Malay lớn nhất là người Iban tại Sarawak với số lượng hơn 600.000 người. Một số người Iban vẫn sống trong các ngôi nhà dài truyền thống trong rừng già dọc theo các con sông Rajang và Lupar và các phụ lưu của chúng, dù nhiều người đã tới sống tại các thành phố. Người Bidayuh, số lượng khoảng 170.000 người, sống tập trung ở vùng phía tây nam Sarawak.

Bộ tộc bản xứ lớn nhất tại Sabah là Kadazan. Họ chủ yếu là những nông dân theo Thiên chúa giáo. 140.000 người Orang Asli, hay những bộ tộc thổ dân, gồm một số cộng đồng sắc tộc khác nhau sống trên Bán đảo Malaysia. Đa số những người sinh sống bằng nông nghiệp hay săn bắn hái lượm du mục truyền thống, đã định cư và hòa nhập một phần vào xã hội hiện đại Malaysia. Tuy nhiên, họ vẫn là nhóm nghèo nhất trong nước. [cần dẫn nguồn]

Người Trung Quốc tại Malaysia chủ yếu theo Phật giáo (phái Đại Thừa), Đạo giáo hay Thiên chúa giáo. Người Trung Quốc tại Malaysia sử dụng nhiều loại tiếng địa phương Trung Quốc gồm tiếng phổ thông, Hokkien/Fujian, Quảng Đông, Hakka và Teochew. Nhiều người Trung Quốc tại Malaysia cũng sử dụng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Người Trung Quốc từ lâu đã chiếm vị trí quan trọng trong cộng đồng thương mại Malaysia.

Người Ấn Độ tại Malaysia chủ yếu là người Hindu Tamil từ miền nam Ấn Độ nói tiếng Tamil, cũng có các cộng đồng Ấn Độ khác nói tiếng Telugu, Malayalam và Hindi, sống chủ yếu tại các thị trấn lớn ở ven biển phía tây bán đảo.

Nhiều người Ấn Độ thuộc tầng lớp trung lưu và thượng lưu sống tại Malaysia cũng dùng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Cũng có một cộng đồng người Sikh khá lớn tại Malaysia với hơn 83.000 người. Đa số người Ấn Độ di cư tới đây đều là các thương nhân, giáo viên và những thợ thủ công có chuyên môn. Một số lượng lớn khác là những nhân công nhập cư từ Ấn Độ ở thời thuộc địa Anh làm việc trong ngành lâm nghiệp[cần dẫn nguồn].

Người Âu Á, Campuchia, Việt Nam, và các bộ tộc bản xứ khác chiếm phần dân số còn lại. Một số lượng nhỏ người Âu Á, hậu duệ người lai Bồ Đào Nha và Malay, nói một thứ thổ ngữ dựa trên tiếng Bồ Đào Nha được gọi là Papiá Kristang.

Cũng có những người Âu Á hậu duệ người lai Philippines và Tây Ban Nha, chủ yếu sống tại Sabah. Là hậu duệ của những người nhập cư từ Philippines, một số sử dụng tiếng Chavacano, thổ ngữ dựa trên tiếng Tây Ban Nha duy nhất tại Châu Á. Người Campuchia và người Việt Nam chủ yếu theo Phật giáo (người Campuchia theo Tiểu Thừa, người Việt Nam theo Đại Thừa).

Âm nhạc truyền thống Malaysia bị ảnh hưởng nhiều từ phong cách Trung Quốc và Hồi giáo. Âm nhạc chủ yếu dựa quanh gendang (trống), nhưng ồm cả các nhạc cụ gõ khác (một số làm bằng các loại vỏ và mai); rebab, một nhạc cụ dây hình cung; serunai, nhạc khí hai lưỡi như oboe; sáo, và trumpet. Nước này có truyền thống múa và kịch múa lâu đời, một số có nguồn gốc Thái, Ấn Độ, Bồ Đào Nha. Các hình thức nghệ thuật khác gồm wayang kulit (rối bóng), silat (một kiểu võ thuật cách điệu hoá) và đồ thủ công như batik, dệt, bạc và đồ đúc đồng.

Quyền công dân

Đa số người Malaysia được trao quyền công dân theo jus soli (ở trên lãnh thổ).[43] Tất cả người Malaysia là công dân liên bang mà không có quyền công dân chính thức bên trong các bang riêng biệt ngoại trừ các bang và lãnh thổ liên bang tại Đông Malaysia nơi quyền công dân là ưu tiên và có thể phân biệt với Bán đảo.

Mọi công dân đều được sở hữu một chứng minh thư sinh trắc học điện tử, được gọi là MyKad, ở độ tuổi 12, và phải mang nó theo mình. Một công dân được đòi hỏi phải trình thẻ của mình cho cảnh sát, hay trong trường hợp khẩn cấp, cho nhân viên quân sự, để được xác minh. Nếu thẻ không được xuất trình ngay lập tức, công dân đó theo kỹ thuật có 24 giờ để mang nó đến trình diện tại đồn cảnh sát gần nhất.

Phong tục

Phong tục và những điều cấm kỵ: khi gặp nhau người Malaysia thường có thói quen sờ vào lòng bàn tay người kia, sau đó chắp hai bàn tay với nhau. Người Malaysia rất kỵ việc xoa đầu và lưng người khác. Người Malaysia thường mặc áo dài bằng vải hoa, nam giới mặc áo sơ mi không cổ và không được để hở cánh tay, đùi ở những nơi công cộng. Nữ thường mặc áo dài tay. Chủ đề tốt nhất bàn luận ở Malaysia là công việc buôn bán, thành tựu xã hội, bóng đá, lịch sử… tránh nói đến chủng tộc và chính trị, mức sống, mức thu nhập.

Ngày lễ

Người Malaysia có nhiều ngày lễ hội suốt cả năm. Một số ngày lễ được liên bang coi là ngày nghỉ lễ côgn cộng và một số ngày lễ khác chỉ được tổ chức tại từng bang riêng biệt. Các lễ hội khác thuộc các nhóm sắc tộc và tôn giáo riêng biệt, nhưng không phải ngày lễ công cộng. Ngày lễ quan trọng nhất là “Hari Merdeka” (Ngày độc lập) ngày 31 tháng 8 kỷ niệm nền độc lập của Liên bang Malaya năm 1957, tuy Ngày Malaysia chỉ được tổ chức tại bang Sabah ngày 16 tháng 9 đều kỷ niệm việc thành lập Malaysia năm 1963.

Hari Merdeka, cũng như Ngày Quốc tế Lao động (1 tháng 5), ngày Sinh nhật Nhà Vua (thứ 7 đầu tiên của tháng 6) và một số ngày lễ khác được coi là ngày lễ công cộng trên toàn liên bang.

Người Hồi giáo tại Malaysia (gồm tất cả người Malays và những người Hồi giáo không Malay khác) kỷ niệm Những ngày lễ Hồi giáo. Lễ hội quan trọng nhất, Hari Raya Puasa (cũng được gọi là Hari Raya Aidilfitri) là tên tiếng Malay của Eid ul-Fitr. Nói chung đây là một ngày lễ được tất cả người Hồi giáo trên thế giới đón chào đánh dấu sự kết thúc của tháng chay Ramadan.

Ngoài Hari Raya Puasa, họ cũng tổ chức lễ Hari Raya Haji (cũng được gọi là Hari Raya Aidiladha, tên dịch của Eid ul-Adha), Awal Muharram (Năm mới Hồi giáo) và Maulidul Rasul (Ngày sinh Nhà tiên tri).

Người Trung Quốc tại Malaysia nói chung tổ chức những ngày lễ hội theo kiểu của tất cả những người Trung Hoa khác trên thế giới. Năm mới Âm lịch là ngày lễ quan trọng nhất, kéo dài mười lăm ngày và kết thúc với Chap Goh Mei. Những ngày lễ khác của người Trung Quốc gồm Thanh Minh, Lễ Thuyền Rồng và Trung Thu. Ngoài những lễ hội truyền thống Trung Quốc, những người Trung Quốc theo Phật giáo cũng tổ chức Vesak Day.

Đa số người Ấn Độ tại Malaysia là tín đồ Hindu giáo và họ tổ chức ngày lễ Deepavali (Diwali), lễ hội ánh sáng, trong khi Thaipusam là lễ hội khi người hành hương từ khắp đất nước đổ về Hang Batu. Ngoài người Hindu, người Sikhs tổ chức lễ Vaisaki, Năm mới của người Sikh.

Những ngày lễ khác như Thứ sáu Tuần Thánh (chỉ tại Đông Malaysia), Giáng sinh, Hari Gawai của người Iban (Dayak), Pesta Menuai (Pesta Kaamatan) của người Kadazan-Dusun cũng được tổ chức tại Malaysia.

Dù đa số lễ hội gắn liền với một sắc tộc hay tôn giáo nhất định, tất cả người Malaysia cùng nhau chào mừng lễ hội không phân biệt tôn giáo và sắc tộc. Khi Hari Raya Puasa và Năm mới Âm lịch trùng khớp, một khẩu hiệu, Kongsi Raya, tổng hợp Gong Xi Fa Cai, một câu chúc mừng được dùng dịp Năm mới Âm lịch, và Hari Raya (cũng có thể có nghĩa “cùng nhau chúc mừng” trong tiếng Malay). Những năm khi Hari Raya Puasa và Deepavali trùng khớp, khẩu hiệu Deepa Raya cũng được tạo ra theo cách tương tự.